Một số vấn đề nhận xét tình hình bệnh nhân đột quỵ
(09:52 | 02/11/2011)
 - Một số vấn đề nhận xét tình hình bệnh nhân đột quỵ vào khoa Cấp cứu tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới năm 2007

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

        Đột quỵ (Stroke) hay tai biến mạch máu não (Cerebrovascular Accident) đã và đang trở thành vấn đề quan trọng của y học. Bệnh tăng huyết áp (THA), đột quỵ ngày càng tăng và tỉ lệ đột quỵ tăng theo tuổi. Theo thống kê năm 2000 ở Mỹ cho thấy có khoảng 700.000 người bị đột quỵ tăng trong đó có 500.000 ca mới mắc bệnh. Hậu quả của đột quỵ, THA gây nên tàn phế và tử vong đứng hàng thứ 2 sau ung thư.

Trung tâm đột quỵ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ 1/2003 - 12/2004 có xấp xỉ 800 bệnh nhân (BN) đột quỵ nằm điều trị.

Đột quỵ là một hội chứng lâm sàng được đặc trưng bởi một sự mất chức năng não cấp tính cục bộ, kéo dài trên 24 giờ hoặc dẫn tới tử vong sớm. Ở nước ta hiện nay, đột quỵ, THA ngày càng tăng không những ở người lớn tuổi, còn ở người trẻ dưới 40 tuổi, là nguy cơ trong công tác phòng chống và điều trị đột quỵ, THA.

Tỉnh Quảng Bình, tình hình đột quỵ, THA cũng có xu thế tăng. Mô hình bệnh tật khá phức tạp. Trong năm 2007, khoa Cấp cứu chúng tôi đã đón, xử lý, phân loại hàng trăm BN đột quỵ, THA. Kết quả chúng tôi phù hợp với các đồng nghiệp ở Viện Tim mạch Hà Nội, Viện Tim mạch Huế, các tác giả Viện Quân y 108...

Bởi vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để dự phòng, điều trị tốt đột quỵ, THA làm giảm bớt các di chứng và hạ thấp tỉ lệ tử vong đột quỵ, THA gây nên. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu, nhận xét một số đặc điểm, tình hình BN đột quỵ vào khoa Cấp cứu năm 2007.

Mục tiêu:

1. Đánh giá tình hình BN tăng huyết áp (THA), đột quỵ vào cấp cứu.

2. Các giải pháp trong công tác cấp cứu, xử lý THA, đột quỵ ban đầu và truyền thông giáo dục cho mọi người bệnh hiểu về bệnh THA, đột quỵ.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng

Tiến hành nghiên cứu các BN vào cấp cứu tại khoa Cấp cứu năm 2007 và các bệnh án lưu lại.

2. Phương pháp nghiên cứu

                - Mô tả cắt ngang.

                - Theo thuật toàn thống kê y học.

III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Bảng 1. Bệnh nhân THA, đột quỵ so với tổng số BN vào cấp cứu

Các loại bệnh cấp cứu

Số BN

Tỉ lệ (%)

Bệnh nhân TNGT
1.352
7,75
Bệnh nhân THA, đột quỵ
582
3,34
Các bệnh khác
15.514
88,92
Tổng số
17.448
100,00
 

Nhận xét: qua bảng 1 chúng ta thấy tổng số BN THA, đột quỵ vào cấp cứu trong năm 2007 là 582 BN, đạt tỉ lệ 3,34% so với các loại bệnh khác.

Bảng 2. Độ tuổi

Độ tuổi

Số bệnh nhân

Tỉ lệ (%)

< 50
65
11,17
51-79
452
77,66
> 80
65
11,17
Tổng số
582
100,00
Nhận xét: bảng 2 cho chúng ta thấy độ tuổi dưới 50 tuổi chiếm tỉ lệ 11,17% cũng như số BN trên 80 tuổi. Độ tuổi thường gặp 51 tuổi đến 79 tuổi trong tổng số 452 BN, chiếm tỉ lệ 77,66%  phù hợp với các tác giả Viện Tim mạch, PGS. Huỳnh Văn Minh và một số tác giả khác. Có những BN tuổi 30 gặp ở nam giới với 02 trường hợp, người cao tuổi nhất là 91 tuổi.

Đột quỵ đang trở thành vấn đề quan trọng của y học vì tuổi thọ trung bình ngày càng tăng mà nguy cơ đột quỵ thì phụ thuộc vào tuổi tác. Hậu quả của đột quỵ, THA là tử vong hoặc tàn phế. Tàn phế do đột quỵ, THA gây ra là vấn đề lớn khi BN mất đi sự độc lập, tự chủ hàng ngày, là trọng tâm của y học hiện đại, là gánh nặng cho gia đình và cho xã hội. Điều trị đột quỵ phải đạt được mục đích: tránh tàn phế mà không gây tử vong.

Bảng 3. Giới tính

Giới tính

Số bệnh nhân

Tỉ lệ (%)

Nam
332
57,04
Nữ
250
42,96
Tổng số
582
100,00
 Nhận xét: bảng 3 cho chúng ta thấy tỉ lệ THA, đột quỵ giữa nam và nữ không chênh lệch nhiều, trong đó nam chiếm tỉ lệ 57,04% so với tổng số vào cấp cứu để nói lên tỉ lệ nữ giới có xu thế ngày càng tăng lên so với những năm 80. Để chúng ta thấy được THA, đột quỵ không gặp nhiều ở nam giới như trước đây.

Bảng 4. Thời gian BN vào cấp cứu

Thời gian

Số bệnh nhân

Tỉ lệ (%)

6 giờ – 14 giờ
286
49,14
14 giờ - 22 giờ
227
39,00
22 giờ - 6 giờ sáng
69
11,86
Tổng số
582
100,00
 Nhận xét: bảng 4 đánh giá khách quan về mặt thời gian BN vào cấp cứu, trong đó cho chúng ta thấy khoảng thời gian BN THA, đột quỵ vào cấp cứu nhiều từ 6 giờ sáng đến 22 giờ với 513 BN, chiếm tỉ lệ 88,14%. Thời gian phù hợp với một số tác giả ở TP. Hồ Chí Minh để chúng ta có cảnh báo xử lý cấp cứu.

Bảng 5. Bệnh nhân phân bổ trong các tháng

Tháng

Số bệnh nhân

Tỉ lệ (%)

1
66
11,34
2
54
9,28
3
46
7,90
4
56
9,62
5
39
6,70
6
29
4,98
7
40
6,87
8
40
6,87
9
50
8,59
10
56
9,62
11
60
10,31
12
46
7,90
Tổng số
582
100,00
Nhận xét: bảng 5 cho chúng ta thấy số BN vào cấp cứu rải đều trong các tháng tập trung vào QI và QIII-IV, cho chúng ta thấy mô hình bệnh THA, đột quỵ vào cấp cứu trong tất cả các tháng không tập trung vào một số tháng nào giống như trong thập kỉ 80. Ta thấy tình tình bệnh THA, đột quỵ ngày càng phức tạp.

Bảng 6. Địa dư

Địa dư

Số bệnh nhân

Tỉ lệ (%)

Thành phố Đồng Hới
302
51,89
Huyện Quảng Trạch
32
5,50
Huyện Tuyên Hóa
33
5,67
Huyện Minh Hóa
07
1,20
Huyện Quảng Ninh
62
10,65
Huyện Lệ Thủy
47
8,08
Huyện Bố Trạch
96
16,49
Ngoại tỉnh: Hà Tĩnh, Huế, Nam Định
03
0,52
Tổng số
582
100,00
 Nhận xét: bảng 6 cho chúng ta thấy BN THA, đột quỵ xảy ra đến cấp cứu nhiều nhất Tp Đồng Hới tỉ lệ 51,89%. Huyện có số người đến cấp cứu ít nhất là Minh Hóa 7 ca - chiếm 1,2%. Trong đó có 3 BN ở ngoại tỉnh đến cấp cứu tại khoa nói lên cuộc sống phức tạp càng cao bệnh THA, đột quỵ xảy ra nhiều hơn có ý nghĩa về mặt bệnh lý giúp cho ta thấy được sự phân bố BN ở các vùng miền trong tỉnh và các huyện.

Bảng 7. Số BN vào các khoa

BN vào các khoa

Số BN

Tỉ lệ (%)

HSCC
124
21,31
Nội CK
386
66,32
Nội TH
17
2,92
Nội TK-TT
07
1,20
YHCT
01
0,17
Cấp cứu
23
3,95
Chuyển BV Huế
02
0,34
Bệnh nhân về
22
3,78
Tổng số
582
100,00
 Nhận xét: bảng 7 cho ta thấy BN vào khoa Nội CK (Nội tim mạch) chiếm tỉ lệ cao 66,32%. Các BN nặng, hôn mê vào khoa HSCC với Glasgow 6-7 điểm, có BN 3 điểm can thiệp đặt NKQ, bóp bóng hoặc thở máy tại khoa Cấp cứu, sau đó chuyển HSCC chiếm tỉ lệ 21,31%. So với tổng BN đột quỵ. Dùng hạ huyết huyết áp khi huyết áp tối đa >170 mmHg. Adalate 10mg hoặc Benalapril 5mg kết hợp Amlopydin 5mg.

Bảng 8. Các loại bệnh

Tên các bệnh

Số bệnh nhân

Tỉ lệ (%)

Cao huyết áp
320
54,98

Tai biến mạch máu não

238
40,89

Xuất huyết não

08
1,37

Hội chứng tiền đình

16
2,75

Tổng số

582
100,00

Nhận xét: mô hình bệnh lý của THA, đột quỵ khá phong phú, trong đó cao huyết áp chiếm 54,98%, tai biến mạch máu não chiếm 40,89%, liệt 1/2 người, xuất huyết não chiếm 1,37% cho ta thấy tính chất khẩn trương trong các cấp cứu ban đầu để làm hạ thấp các tai biến di chứng và tử vong là hết sức quan trọng.

IV. KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu nhận xét đánh giá tình hình BN đột quỵ vào khoa Cấp cứu trong năm 2007, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

1. Bệnh THA, đột quỵ ngày càng tăng lên, nhất là các nước đang phát triển, các thành phố, thị xã nhiều hơn vùng nông thôn với tỉ lệ 51,89%.

2. Bệnh nhân THA, đột quỵ có xu hướng gặp nhiều ở lứa tuổi trẻ (BN mới 30 tuổi mà HA 180/110 mmHg) gặp nhiều ở độ tuổi 50-79 tuổi chiếm 77,66%.

3. Trong đó chúng ta gặp nhiều THA với tỉ lệ 54,98%, sau đó là tai biến mạch máu não với tỉ lệ 40,89%. Qua đó chúng ta thấy mô hình bệnh tật để có giải pháp xử lý cấp cứu ban đầu cũng như công tác thông tin, tuyên truyền cho mọi người dân hiểu thêm về bệnh THA, đột quỵ trong cộng đồng.

4. Bệnh THA, đột quỵ gây nên các biến chứng và dị tật suốt đời, ảnh hưởng đến các sinh hoạt, hoạt động của người bệnh, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế - xã hội và gia đình người bệnh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phan Tử Dương (2001), “Bệnh tăng huyết áp”, NXB Y học Hà Nội

2. Phạm Gia Khai và cs (2002), “Tần suất tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam”, Tạp chí Tim mạch học Việt Nam.

3. Thông tin tim mạch học MEDIC (2002). “Nguy cơ tim mạch liên quan với kiểm soát huyết áp theo trị số phòng khám và huyết áp 24 giờ (ABPM) ở người cao huyết áp được điều trị”. JAM Coll Cardio March 2002: 39:878-885.

4. Kỉ yếu các đề tài nghiên cứu khoa học. “Hội nghị Tim mạch miền Trung lần thứ III”, trang 476 -486.

5. Cấp cứu nội khoa, Phạm Tử Dương, Nguyễn Thế Khánh, “Tai biến mạch máu não”, trang 196-217, NXB Y học Hà Nội - 2000.

6. Vũ Văn Đính và cộng sự, “Hồi sức cấp cứu toàn tập” (2005), NXB Y học Hà Nội, trang 126 - 137.

7. “Đột quỵ não cấp cứu điều trị dự phòng” (2005), NXB Y học Hà Nội,

8. Nguyễn Văn Thông - Trần Duy Anh - Hoàng Minh Châu... trang (07-25).

 

( Theo Tạp chí Nội khoa số đặc biệt 7/2011)


   
Tìm kiếm bài Viết
Xem bài Theo ngày Tháng
   
 
Các tin khác
Bệnh Parkinson (30/06/2014)